CHÀO MỪNG BẠN!

Vui lòng chọn "Đăng Nhập" nếu Bạn là Thành Viên.

Chọn "Đăng Ký" nếu Bạn chưa là Thành Viên.

Nếu Bạn chỉ dạo chơi thôi thì chọn mục còn lại.

Chúc các bạn có những giây phút thoải mái và những bài học bổ ích với Diễn Đàn Lịch Sử!


Chào mừng Thành viên thứ 110 -tuan khanh- tham gia vào Diễn Đàn của chúng ta!
 
Trang ChínhCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Duc Toan (673)
trongnguyen (104)
nguyenlinh (90)
xuanhoa20 (36)
nth999 (34)
673 Số bài - 58%
104 Số bài - 9%
90 Số bài - 8%
62 Số bài - 5%
50 Số bài - 4%
42 Số bài - 4%
36 Số bài - 3%
35 Số bài - 3%
34 Số bài - 3%
34 Số bài - 3%

Share | 

 

 Lật lại một số "nghi án" lịch sử!

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
14.07.10 5:36

avatar
Xem phim, Cafe, Online....

Quản Lý

Duc Toan

Quản Lý

Xem lý lịch thành viên http://lichsu-ctu.info
Nam
Tổng số bài gửi : 673
Điểm Thi Lịch Sử : 102325
Hệ Thống Chấm Điểm : 159
Birthday : 20/11/1988
Ngày Tham Gia : 11/04/2010
Tuổi : 29
Đến từ : Trường Đại học Cần Thơ
Công Việc : Giảng Viên
Sở Trường/ Sở Thích Sở Trường/ Sở Thích : Xem phim, Cafe, Online....

Bài gửiTiêu đề: Lật lại một số "nghi án" lịch sử!

 
Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang nắm giữ vương quyền).

Đỗ Thích có giết Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn?

"Đại Việt sử ký toàn thư" của sử gia Lê Văn Hưu ghi: "Đỗ Thích đêm nằm trên cầu bỗng thấy sao rơi vào miệng, cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua".

Một màn kịch được dàn dựng rằng, sau khi giết hai cha con Đinh Tiên Hoàng, Đỗ Thích sợ trốn lên máng nước chịu đói, chịu khát. Bất chợt trời mưa, Đỗ Thích giơ tay hứng nước bị lộ, bị quân lính bắt trói, băm nát thành muôn mảnh".

Thật vô lý. Vì Đỗ Thích là cận vệ gần gũi nhà vua. Khi bị Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) đuổi, Đỗ Thích cõng Đinh Bộ Lĩnh chạy trốn. Nghĩa là tình vua tôi đã được xác lập từ lúc nguy nan.

Lại nữa, tại sao Đỗ Thích chỉ giết Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn mà không giết nốt cả Đinh Toàn? Vì Đinh Toàn sống, tất sẽ nối ngôi vua cha và có quyền tru di tam tộc Đỗ Thích?

Vậy sự thật ra sao? Đó chính là âm mưu của Dương Thị Nga (mà giới nghệ sỹ hiện đại gọi là Thái hậu Dương Vân Nga) và Thập đạo Tướng quân Lê Hoàn.

Dương Thị Nga là con gái Dương Tam Kha (anh vợ Ngô Quyền) cháu Dương Đình Nghệ (bố vợ Ngô Quyền) quê Thanh Hóa.

Bà qua 3 đời chồng:

- Đời chồng thứ nhất, lấy Ngô Xương Văn (con thứ hai của Ngô Quyền), không có con.

- Đời chồng thứ hai, thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đã lọt vào mắt bà. Đúng ra là Dương Tam Kha chủ động gả con gái Dương Thị Nga (lần thứ hai) cho Đinh Bộ Lĩnh vì nhìn thấy trước thế lực và triển vọng của Đinh Bộ Lĩnh. Vả lại, trước kia, bố Đinh Bộ Lĩnh (là Đinh Công Trứ) cũng là tướng của Dương Đình Nghệ (bố Dương Tam Kha). Hai nhà kết thông gia vừa môn đăng hộ đối, vừa có thế lực. Mặt khác, Đinh Bộ Lĩnh cũng muốn hòa hiếu, chứ không muốn đánh Ngô Nhật Khánh.

Sau này lên ngôi, Dương Thị Nga trở thành Hoàng hậu và đẻ ra Đinh Toàn. (Đời vợ trước của Đinh Bộ Lĩnh đẻ ra Đinh Liễn).

- Đời chồng thứ ba, lấy Lê Hoàn, vốn là tướng giỏi của Đinh Tiên Hoàng và được nhà vua thăng tới chức Thập đạo Tướng quân điện tiền đô chỉ huy sứ, nắm thực quyền quân lực trấn giữ kinh thành, trong khi, "bộ tứ" gắn bó với vua là Nguyễn Bặc, Đinh Điền chỉ giúp việc ngoại chính.

Dương Thị Nga phải tính nước cờ: Theo truyền thống, nếu Đinh Tiên Hoàng mất, ngôi báu ắt về tay Đinh Liễn. Trên thực tế, bà không mặn mà với Đinh Tiên Hoàng, vì Lê Hoàn mới là người vẹn toàn. Và mối tình sâu nặng ấy đã cho ra đời cậu bé Đinh Toàn (dù mang họ Đinh, nhưng là giọt máu của Lê Hoàn).

Màn kịch ấy lại được đạo diễn bởi Hồng Hiến (vốn là người phương Bắc làm gián điệp cho quân Tống, lại là quân sư tâm phúc cho Lê Hoàn. Và thế là âm mưu sát hại bố con Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn của Lê Hoàn cùng Dương Thị Nga đã được thực hiện. Đinh Toàn (con của Dương Thị Nga với Lê Hoàn) mới 6 tuổi được lập làm vua, và tất nhiên Thái hậu Dương Thị Nga cùng Lê Hoàn nhiếp chính.

Như vậy, việc Lê Hoàn lấy quan hệ "tiền hôn nhân" để bước tiếp theo đạt mục đích chiếm đoạt ngai vàng đã rõ khi giặc Tống xâm lược nước ta vào tháng 3 năm 981 (khi thấy bố con Đinh Tiên Hoàng bị giết, triều đình lục đục, chia rẽ, "bộ tứ" tan rã, Nguyễn Bặc, Đinh Điền bị quy tội làm gián điệp cho giặc Tống, bị diệt...).

Đương nhiên, về quân sự, Lê Đại Hành (Lê Hoàn) quả là một tài năng phi thường, dùng binh như thần, đánh đâu thắng đó bảo vệ vững chắc nền độc lập quốc gia và do vậy, đã cứu được danh dự cho ông nhiều phần.

Tuy vậy, nói cho công bằng, thì cha con vua Đinh cũng tự gây họa cho mình mà không biết. Ấy là việc Đinh Tiên Hoàng yêu con thứ mà quên con trưởng (con thứ Đinh Liễn giết Hoàng Thái tử Hạng Lang), tức là cha con vua Đinh đã tạo nên sơ hở để từ đó người bên ngoài lợi dụng.

Thái sư Lê Văn Thịnh có mưu giết vua Lý Nhân Tông?

"Đại Việt sử ký toàn thư" viết rằng Lê Văn Thịnh làm phép hóa hổ, định hại vua Lý Nhân Tông ở hồ Dâm Đàm (tức Hồ Tây), dẫn tới việc Lê Văn Thịnh bị truất chức Thái sư và bị lưu đày tại Thao Giang (Phú Thọ ngày nay).

Trước hết, chúng ta cùng xem xét lại sự nghiệp của Nguyên phi Ỷ Lan, người trực tiếp gây ra án oan cho Thái sư Lê Văn Thịnh.

Trước khi được tuyển vào cung, tên bà là Lê Thị Mệnh, người làng Thổ Lỗi, tục gọi là làng Sủi, nay là thôn Thuận Quang, xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội.

Mùa xuân năm 1061, Lý Thánh Tông sang chùa Dâu để cầu tự, vì vua đã 39 tuổi mà chưa sinh con. Dân chúng đổ ra đón vua nhưng cô Mệnh khi ấy đang cắt cỏ, lại đứng tựa vào cây lan (vì thế sau này vua gọi là Ỷ Lan - dựa vào cây hoa lan), mà không ra xem vua.

Chính cái sự độc đáo không giống ai này khiến vua để ý. Vua cho vời cô gái cắt cỏ tới cật vấn, qua đó phát hiện ra một cô thôn nữ vừa xinh đẹp, vừa thông minh. Và thế là cô Mệnh lọt vào mắt xanh của nhà vua cùng với 11 cô gái quê khác.

Sự khác người ấy của cô Mệnh được thể hiện: ngoài sống với vua, thời gian còn lại rất nhiều, cô dành cho việc học làm hoàng hậu, học làm vua.

Thế là, năm 1069, khi đích thân Lý Thánh Tông cầm quân đi đánh Chiêm Thành, thì vua đã giao công việc triều chính cho Ỷ Lan "Lưu thủ kinh sư", trong vòng 5 tháng, chứ không giao việc cho quan Tể tướng Lý Đạo Thành hoặc các thân vương.

Việc đó hẳn nhà vua có con mắt tinh đời, song thực chất, từng bước Ỷ Lan muốn thể hiện tài năng, bản lĩnh trị quốc, bình thiên hạ khi mới 20 tuổi. Ỷ Lan đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, tức là có công đầu trong việc huy động nhân tài vật lực đánh thắng quân Chiêm Thành.

Năm 1075, bà là người lãnh đạo cuộc Bắc phạt, khi phát hiện quân Tống đang tập trung lương thảo và chiến cụ ở châu Ung, châu Liêm và châu Khiêm chuẩn bị đánh Đại Việt.

Lúc này, vua Lý Nhân Tông (con bà) mới 9 tuổi, quan Thái sư Lý Đạo Thành đã ngoài 80 tuổi, lại theo phái chủ hòa, và đang bị Ỷ Lan đày đi trấn giữ Nghệ An; Lý Thường Kiệt và Tôn Đản thì cầm quân, nhưng Lý Thường Kiệt tuổi đã cao, mặc cảm về một ông quan "thái giám" còn nặng nề, thế nên, mọi quyền bính đều nằm trong tay Ỷ Lan.

Muốn bảo đảm cho cuộc Bắc phạt, và tiếp sau đó là chống quân Tống thành công, Ỷ Lan đã làm được 3 điều (ngoài quyết tâm chiến lược đúng đắn và táo bạo là đánh quân Tống ngay trên đất Tống):

Thứ nhất, nền cai trị vững chắc, bảo đảm an ninh hậu phương.

Thứ hai, tiếp tế lương thực, thực phẩm đầy đủ và kịp thời cho 10 vạn tinh binh và 40 vạn người phục vụ trong một cuộc hành quân bí mật, là cực kỳ tốn kém về sức người và sức của.

Thứ ba, huy động và lãnh đạo được một lực lượng quân và dân binh tham chiến cực lớn, biết dùng người và bổ sung nhân tài vật lực bảo đảm cho cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

Tháng Giêng năm 1072, Lý Thánh Tông băng hà, Hoàng Thái tử Càn Đức (Ỷ Lan sinh được 2 con trai) 7 tuổi lên ngôi, tôn mẹ đẻ làm Hoàng Thái phi, tôn mẹ Thượng Dương làm Hoàng Thái hậu (bà vợ cả này không có con), cùng buông rèm nhiếp chính, Thái sư Lý Đạo Thành giúp đỡ công việc.

Nói là "cùng" nghe và giải quyết chính sự, nhưng thực chất quyền hành đều thâu tóm vào tay Ỷ Lan. Vì lợi thế là mẹ đẻ ra vua, Ỷ Lan đã vô hiệu hóa Hoàng Thái hậu, bằng cách bắt tạm giam "vợ cả vua cùng 76 thị nữ vào cung cấm, rồi bức chết chôn theo lăng Lý Thánh Tông”. Đó là tội "giết người hàng loạt" của Ỷ Lan.

Cùng trong đợt thanh trừng này, Thái sư Lý Đạo Thành bị hạ bệ từ quan Tể tướng (chức quan cao nhất trong triều đình) xuống làm Tổng trấn đi cai quản châu Nghệ An.

Chỉ sau đó 1 năm, nhận thấy Lý Đạo Thành rất mực trung thành với Hoàng gia, qua việc thờ cúng Lý Thánh Tông, nên Ỷ Lan theo ý con, mới thăng lại chức Thái phó cho ông, và mời ông về Kinh đô giúp nội trị, khi quân ta Bắc phạt.

Về Lý Thường Kiệt cũng vậy. Ỷ Lan biết rõ tài năng, đức độ và uy tín của Lý Thường Kiệt, nhưng không chia sẻ quyền lực, mà chỉ triệt để sử dụng ông là một vị tướng, trận mạc nối tiếp trận mạc cho tới lúc già vẫn phải cầm quân đi bình Chiêm, đánh Tống chiến công lừng lẫy, cũng chỉ phong Thái úy (đứng đầu hàng võ) chứ không phong Thái sư hay Tể tướng.

Về Lê Văn Thịnh, đỗ đầu khoa thi Minh tinh bác học (lúc đó chưa có trạng nguyên), do Ỷ Lan mở theo đề nghị của Lý Thường Kiệt (bà mở được 2 khóa thi: Minh tinh bác học và Nho học tam trường). Sau đó, Lê Văn Thịnh được cử vào dạy Lý Nhân Tông học hành từ nhỏ cho đến khi trưởng thành.

Năm 1084, ông là Thị lang Bộ Binh đi đàm phán với người Tống về biên giới thắng lợi: Nhà Tống phải trả lại châu Quảng Uyên (phần lớn phía Bắc, Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh bây giờ) bị chiếm trong chiến tranh từ năm 1076.

Năm 1085, khi Ỷ Lan thôi nhiếp chính vì tuổi tác và mải mê đi lo việc tiếp tục xây cất chùa và lễ chùa, Lê Văn Thịnh mới được thăng chức Thái sư trông coi công việc triều chính.

Ông là nhà nho tiết tháo, nên không thể không can ngăn Ỷ Lan xâm phạm nhiều quốc khố trong việc dựng trên 100 ngôi chùa để sám hối tội giết Hoàng Thái hậu và 76 cung nữ. Vì thế, bà thù ghét và thanh trừng không thương tiếc bất cứ ai cản trở công việc phát tâm công đức của bà, mà kẻ thù chính là quan đầu triều Lê Văn Thịnh.

Ỷ Lan lập mưu vu cho Lê Văn Thịnh đội lốt hổ giết vua trên hồ Dâm Đàm và cái chết của Lê Văn Thịnh là kết quả của cuộc chiến giữa Nho giáo (người đại diện là Thái sư Lê Văn Thịnh) và Phật giáo (đại diện là Nguyên phi Ỷ Lan đang nắm giữ vương quyền).

(Bài viết có sử dụng một số tư liệu trong cuốn "Nhìn lại lịch sử" của các nhà sử học Phan Duy Kha, Lã Duy Lan và Đinh Công Vĩ, NXB VH-TT, 2003)

Theo Lê Trung Đản (An ninh The Gioi)




Cứ đi rồi sẽ gặp! Cứ dấn thân rồi sẽ thành công! Cứ kiên trì rồi sẽ thắng!
Nguyễn Đức Toàn
Phone: 0978 883 183
Email: ductoan@ctu.edu.vn
Website: http://diendanlichsu.forum-viet.com

15.07.10 4:29

avatar

Thành viên

nth999

Thành viên

Xem lý lịch thành viên
Tổng số bài gửi : 34
Điểm Thi Lịch Sử : 39
Hệ Thống Chấm Điểm : 7
Ngày Tham Gia : 17/04/2010

Bài gửiTiêu đề: Vô căn cứ

 
Duc Toan đã viết:
Dương Thị Nga là con gái Dương Tam Kha (anh vợ Ngô Quyền) cháu Dương Đình Nghệ (bố vợ Ngô Quyền) quê Thanh Hóa.

Bà qua 3 đời chồng:

- Đời chồng thứ nhất, lấy Ngô Xương Văn (con thứ hai của Ngô Quyền), không có con.

- Đời chồng thứ hai, thời kỳ Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, đã lọt vào mắt bà. Đúng ra là Dương Tam Kha chủ động gả con gái Dương Thị Nga (lần thứ hai) cho Đinh Bộ Lĩnh vì nhìn thấy trước thế lực và triển vọng của Đinh Bộ Lĩnh. Vả lại, trước kia, bố Đinh Bộ Lĩnh (là Đinh Công Trứ) cũng là tướng của Dương Đình Nghệ (bố Dương Tam Kha). Hai nhà kết thông gia vừa môn đăng hộ đối, vừa có thế lực. Mặt khác, Đinh Bộ Lĩnh cũng muốn hòa hiếu, chứ không muốn đánh Ngô Nhật Khánh.

Từ trước tới nay, Dương Vân Nga thường được nhắc tới như là hoàng hậu hai triều, Đinh và Lê, nhưng gần đây có ý kiến cho rằng bà là hoàng hậu ba triều.

Theo giả thiết trong cuốn Phả hệ
họ Ngô Việt Nam, Gia phả họ Đinh Danh ở Thái Bình và được một số nhà nghiên cứu chấp nhận, thì bà Dương thị không chỉ là hoàng hậu hai triều mà còn là hoàng hậu ba triều. Trước khi lấy Đinh Tiên Hoàng, bà đã lấy Hậu Ngô vương Ngô Xương Văn và sinh ra Ngô Nhật Khánh. Điển hình trong số những người ủng hộ giả thiết này là ba tác giả: Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ trong tác phẩm Nhìn lại lịch sử do NXB Văn hoá thông tin ấn hành năm 2003.

Tuy nhiên, giả thiết bà là hoàng
hậu ba triều có những chỗ không ổn, nếu đi sâu tìm hiểu những tình tiết từ các nguồn sử sách và tài liệu những năm gần đây. Những căn cứ chủ yếu là:

Sử sách

Hoàng hậu là một nhân vật quan
trọng trong cung đình, trong đời sống đế vương. Hoàng hậu là "mẫu nghi thiên hạ". Phàm sách sử khi chép tới vua và hoàng tử đều nói đến vợ vua và mẹ hoàng tử, không thể bỏ qua. Vậy mà tất cả các sách sử, từ sách cổ xưa nhất như Việt sử lược đến những sách sử sau này như Đại Việt Sử ký Toàn thư, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Việt sử Tiêu án..., đều không thấy chép Dương hậu từng là vợ của Hậu Ngô vương Xương Văn và mẹ của Nhật Khánh, tất phải có lý do,
vì đây không phải là sự thực. Hơn nữa, nếu quả thực Dương hậu là vợ Hậu Ngô vương nghĩa là bà là hoàng hậu của ba triều, Ngô, Đinh và Lê, một trường hợp hy hữu trong lịch sử. Sự hy hữu đó càng khiến các sử gia không thể "lờ đi", "bỏ qua", mà không nhắc đến.

Hơn nữa, có một tình tiết ghi
trong sử: Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn đều làm vua, thậm chí Xương Văn dù là em còn được mọi người kính trọng hơn vì công trạng khôi phục ngôi vua cũng như tính nhún nhường, khiêm cung của ông. Trong khi gia quyến Xương Ngập được kể rõ (vợ là Phạm thị con Lệnh công Phạm Chiêm và con là Ngô Xương Xí) thì những người gia quyến của Xương Văn, như giả thuyết của sách Phả hệ họ Ngô Việt Nam, là Dương thị và Nhật Khánh, lại không được sử sách "nối kết" với ông vua em. Và Nhật Khánh, là cháu nội Tiền Ngô vương, cháu ngoại Dương Bình vương, nhưng sử sách lại không hề nhắc tới thân thế. Đại Việt sử ký toàn thư cũng chỉ ghi chung chung: "Nhật Khánh là con cháu Tiền Ngô vương..."

Khi Lê Hoàn lập Dương Vân Nga làm
hoàng hậu, chính sử ghi rõ: "Vua lập Đại Thắng Minh hoàng hậu triều Đinh làm hoàng hậu" và các sử gia rất nặng lời với Lê Hoàn trong việc này. Vậy mà đối với việc Đinh Bộ Lĩnh lấy mẹ Ngô Nhật Khánh, ta chỉ thấy sử chép: "lấy mẹ Nhật Khánh" mà không hề thấy ghi "lấy hoàng hậu cũ của Nam Tấn vương". Hơn nữa, không ai chê cười vua Đinh lấy mẹ Nhật Khánh cả.

Các sử gia thông cảm cho mục đích chính trị của việc này (ràng buộc họ Ngô cho thân để thu phục Ngô Nhật Khánh). Nếu mẹ Khánh là vợ Nam Tấn vương Ngô Xương Văn, hẳn các sử gia (như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên...) sẽ kết tội vua Đinh làm "đầu têu" cho Lê Hoàn trong việc lấy vợ vua trước, và những dòng viết "nặng lời" dành cho Lê Hoàn, trước hết đã dành cho vua Đinh rồi.

Giai thoại

Có lẽ nhắc đến Dương hậu, không
ít người biết giai thoại khi bà mới sinh thường hay khóc dạ đề. Một hôm có người đạo sĩ đi qua, ông lấy bút viết vào lòng bàn tay Vân Nga hai câu thơ và cô bé nín bặt: "Nín đi thôi, nín đi thôi! Một vai gánh vác cả đôi sơn hà". Lời tiên tri của ông đạo sĩ ứng nghiệm vào việc bà lấy Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành.

Đời sau có thể ước đoán rằng,
cũng như những câu sấm như: "Đỗ Thích giết Đinh Đinh, Nhà Lê khởi thánh minh", câu sấm này là do người ta đặt ra sau khi sự việc đã diễn ra. Như vậy, khi sự việc đã diễn ra, sau khi Dương hậu đã mất (năm 1000), bà đã chỉ lấy 2 vua, Đinh và Lê, nên người đời mới đặt ra câu sấm, mượn lời ông đạo sĩ, để bà gánh vác "đôi sơn hà" mà không gánh vác "ba sơn hà".

Mặt khác, còn một giai thoại nữa
ở Ninh Bình kể về mối tình thời trẻ giữa Lê Hoàn và Dương thị. Dân gian cảm thông, biện minh cho quan hệ của hai người sau này trong cung đình nên đã hợp pháp hoá cho mối tình của họ từ tuổi thanh xuân, để đến khi vào cung, việc họ làm chỉ là "nối lại tình xưa", làm giảm nhẹ tình tiết mà các nhà nho gọi là Lê Hoàn đã "lấy mẹ goá, hiếp con côi".

Câu chuyện trên dù là có thật hay
chỉ là giai thoại, nó cũng phản ánh một giá trị: Lê Hoàn và Dương hậu trạc tuổi nhau. Có trạc tuổi nhau thì thời niên thiếu họ mới có thể đến với nhau, và đó mới là cơ sở để dân gian thêu dệt câu chuyện tình thời trẻ đẹp đẽ, "xứng đôi vừa lứa" của họ với thái độ đồng tình. Nếu bà là một hoàng hậu trong cung (thành Cổ Loa của Ngô Xương Văn và sau lại theo con là Nhật Khánh về Đường Lâm - Sơn Tây) thì bà không thể gặp được Lê Hoàn ở Hà Nam hoặc Thanh Hoá (quê ông có hai thuyết, một thuyết cho rằng ở Hà Nam, thuyết khác nói rằng ở Thanh Hoá). Bà và Lê Hoàn trạc tuổi nhau thì bà không thể sinh ra Ngô Nhật Khánh vì khi Khánh nổi dậy năm 965 ít nhất cũng phải 18 tuổi, mà Lê Hoàn (xấp xỉ tuổi bà) khi đó mới 24.

Tác giả Lã Duy Lan, Phan Duy Kha,
Đinh Công Vĩ trong Nhìn lại lịch sử cho rằng có thể Dương hậu và Lê Hoàn biết nhau ngay từ khi hàn vi, nhưng vì không "môn đăng hộ đối" nên Dương Tam Kha không chấp nhận. Giả thiết này rất gượng ép. Theo các tác giả này, bà sinh năm 928. Như vậy, ít nhất đến năm 965 khi Xương Văn tử trận (lúc đó bà 37 tuổi), bà còn ở Cổ Loa với tư cách là hoàng hậu. Chỉ khi Nam Tấn vương mất bà mới theo cha (Tam Kha) - theo các tác giả Nhìn lại lịch sử - là về Ái châu, chứ không phải ấp Chương Dương mà ông được phong; và bà cũng không "tòng tử", theo con Nhật Khánh về Đường Lâm. Đây chính là một tình tiết hơi khó hiểu trong lập luận của ba tác giả trên. Giả sử cứ cho rằng giả thiết trên đúng là bà về Ái châu, thì theo chính sử, ngay sau khi Nam Tấn vương mất, Đinh Liễn từ Cổ Loa trở về Hoa Lư, thoát thân phận làm con tin và được sai đi châu Ái mộ quân. Lê Hoàn, lúc này 24 tuổi, ở trong số những người theo Đinh Liễn về Hoa Lư. Như vậy, năm 965, tại Ái châu, trong một khoảng thời gian rất ngắn, một người quyền quý, đứng tuổi mới đến (Dương hậu) và một người nghèo khó, lam lũ, trẻ trung vừa đi (Lê Hoàn), làm sao mà gặp được nhau, và gặp nhau trong môi trường nào với sự ngăn cách giàu nghèo của xã hội ngày ấy để trở thành tình nhân?

Điều đáng nói hơn là tác giả Đinh
Công Vĩ, trong bài viết riêng của mình, lại ghép hai tư liệu không hề logic lại với nhau để khẳng định một lần nữa điều này. Một mặt, tác giả dẫn ngọc phả ở Thanh Hóa để khẳng định mối tình thời son trẻ của Dương hậu và Lê Hoàn khi bà chưa lấy Ngô Xương Văn. Tiếp theo, tác giả lại viết: "Theo một tài liệu khác thì sau đó bà lấy Ngô Xương Văn". Chỉ căn cứ vào phép toán số học có thể thấy không thể có chuyện này. Bởi lẽ, bà lấy Xương Văn (tác giả căn cứ vào sử chép: "Tam Kha lấy Xương Văn làm con mình") khoảng năm 945, lúc bà 17 tuổi nhưng trước đó bà đã yêu Lê Hoàn thì Lê Hoàn lúc ấy cũng chỉ là một cậu bé mới lên 4 tuổi thôi.

Vậy, dù là bà yêu Lê Hoàn lần đầu
khi cả hai người chưa vào Hoa Lư (theo giai thoại mà sử không chép) trước hay sau khi Xương Văn chết đi nữa thì cũng chỉ nói lên một điều: Bà không lấy Xương Văn. Bà phải cùng một lứa tuổi với Lê Hoàn và như thế thì không phải là mẹ Nhật Khánh (vì Khánh cũng sinh khoảng 945 - 946 để năm 965 trở thành một sứ quân). Giả thiết của ba tác giả trên rất mâu thuẫn về không gian và thời gian.

Cách đặt tên cho Dương hậu của cuốn gia phả

Gia phả gọi bà là Dương Vân Nga,
tức là gọi theo giai thoại dân gian (như trên đã nêu, là cách ghép tên hai thôn). Gia phả là "người thật, việc thật", không giống như dã sử. Chính các tác giả Nhìn lại lịch sử cũng có nhận xét rằng "Dương Vân Nga" chỉ là cái tên văn nghệ do nhà viết chèo Trúc Đường đặt cho bà khi viết vở Thái hậu Dương Vân Nga mà thôi.

Đóng góp của các nhà soạn Phả hệ
họ Ngô Việt Nam là không thể phủ nhận, thậm chí rất đáng trân trọng và thán phục. Nhưng, cũng như chính cuốn gia phả đã dẫn, có những giả thuyết đã quá xa xưa, như trường hợp giả thuyết nói tổ tiên 7 đời của Ngô Quyền cách ông những 700 năm (điều không thể xảy ra – như kết luận của của sách này) chẳng hạn, thì ta thấy rằng, gia phả - cả họ Ngô lẫn họ Đinh Danh - cũng chỉ là một nguồn tài liệu để tham khảo mà thôi, không đủ để cải chính mọi điều trong chính sử.

Cách gọi tên bà Dương hậu theo
kiểu phỏng đoán như trên (chọn tên cho đẹp) cho thấy độ xác thực của 2 cuốn gia phả đối với tình tiết lấy 3 đời chồng vua của bà Dương hậu không cao.

"Xương Văn làm con Bình vương"

Tác giả Lã Duy Lan trong cuốn
Nhìn lại lịch sử căn cứ vào câu trong sách Đại Việt sử ký toàn thư: "[sau khi cướp ngôi của Ngô Xương Ngập,] Tam Kha lấy con thứ hai của Ngô vương là Xương Văn làm con mình" để kết luận rằng "lấy làm con mình tức là cho làm con rể". Đây là điều phỏng đoán hơi đi quá. Dương Tam Kha vốn là cậu ruột của Xương Văn, khi ông không có con trai thì việc nhận cháu làm con cũng là điều dễ hiểu, giống như trường hợp ở Trung Hoa khi đó trong thời Ngũ đại, vua Chu Thái Tổ Quách Uy đã nhận cháu bên ngoại là Sài Vinh làm con và sau Sài Vinh nối nghiệp, tức là vua Chu Thế Tông. Như vậy "nhận làm con" mà suy ra là "làm con rể" thì chưa hoàn toàn thuyết phục.

Thời gian và tư liệu biên soạn

Cuối cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam
có dẫn danh sách một loạt tài liệu tham khảo cổ xưa. Đây là một trong những vấn đề liên quan đến cổ sử cần lưu ý.

Chuyện bà Dương hậu cách đây đã
hơn 1000 năm. Hãy thử làm một phép so sánh để thấy sự khó khăn của những người nghiên cứu sử học và so sánh với sự xung đột giữa anh em Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ cách đây chỉ hơn 200 năm (cuối 1786, đầu 1787). Sự kiện giữa anh em nhà Nguyễn Tây Sơn, dù xảy ra khi sử học Việt Nam đã khá phát triển (sau khi Đại Việt sử ký toàn thư đã ra đời ngót 100 năm), thế nhưng những gì sách sử để lại về nó đều còn nhiều chỗ không rõ ràng khiến đời sau gặp nhiều khó khăn khi tìm hiểu nó.

Với một sự kiện xảy ra cách đây
200 năm mà còn khó xác định tính chân thực như vậy, huống chi, tài liệu tham khảo cổ xưa nhất cho các nhà biên soạn cuốn Lịch sử họ Ngô Việt Nam là một cuốn gia phả cổ cũng "chỉ" được soạn vào tận năm 1477, tức là đã cách xa thời đại của bà Dương hậu những 500 năm! Điều kiện nghiên cứu xưa kia khó khăn hơn ngày nay nhiều, từ phương tiện lưu giữ đến phương tiện truyền tin, rất khó tránh khỏi việc "tam sao thất bản". Đó những khó khăn mà không chỉ các tác giả gặp phải khi soạn thảo gia phả, mà ngay với các nhà sử học khi nghiên cứu lịch sử cũng gặp phải điều tương tự. Việc "chế biến" thông tin, trong những trường hợp còn quá mờ mịt nếu căn cứ vào sử sách, là khó tránh khỏi. Trong trường hợp này, những nhà soạn Phả hệ đã "chế biến" thông tin thiếu chính xác, chưa hợp lý.

Hành vi của Ngô Nhật Khánh và một giả thiết khác hợp lý hơn

Có một tình tiết sử cũ ghi lại mà
các nhà nghiên cứu, những người ủng hộ quan điểm bà Dương hậu lấy 3 vua, tác giả Nhìn lại lịch sử chưa chú ý. Khi khẳng định Dương hậu mẹ Đinh Toàn cũng là mẹ Ngô Nhật Khánh, các tác giả lại không nghiên cứu thấu đáo về quá trình hành trạng của Nhật Khánh.

Mẹ Nhật Khánh và hoàng hậu Dương
thị phải là hai người chứ không thể là một người.

Sử sách khi đề cập việc Đinh Bộ
Lĩnh lấy mẹ Khánh không ghi bà mang họ gì; khi đề cập tới Dương hậu mẹ Đinh Phế Đế sử sách cũng không ghi bà chính là mẹ Ngô Nhật Khánh. Các thần phả, ngọc phả cho thấy trước khi đến dụ hàng Ngô Xương Xí, Đinh Bộ Lĩnh đã đến yết kiến Chương Dương công Dương Tam Kha để xin "tác động" và lấy con ông là Dương Ngọc Vân. Bà này chính là Dương hậu trong sử sách, và thông qua tác động của bà, Xương Xí đã hàng vua Đinh mà không gây đổ máu. Như vậy Đinh Bộ Lĩnh lấy con gái Dương Tam Kha để dụ hàng Xương Xí, chưa từng nghe nói ông làm rể Tam Kha để dụ Nhật Khánh bao giờ. Việc lấy con gái Dương Tam Kha và lấy mẹ Ngô Nhật Khánh là hai việc làm riêng rẽ của vua Đinh, nhằm thu phục hai anh em họ Ngô cát cứ trên hai vùng khác nhau. Để cho hai họ Ngô được sống là cách làm thông minh nhất của vua Đinh. Bởi lẽ, chính họ Ngô chứ không phải họ nào khác, đang nắm quyền trị nước, đang là "chính thống", vì thế khi đánh dẹp các sứ quân, ông không thể đối xử với họ Ngô theo kiểu "triệt hạ" như đối với họ Đỗ, họ Nguyễn, họ Lã hay họ Kiều được. Ông đã giành thiên hạ bằng cả "uy vũ" lẫn "đức độ", bằng cả "lý" lẫn "tình".

Hãy thử đặt một giả thiết khác
là:

Mẹ Ngô Nhật Khánh, dù đã có tuổi
khi lấy Vạn Thắng vương Đinh Bộ Lĩnh, chính là người đã sinh ra Đinh Hạng Lang, con út của Tiên Hoàng, sớm nhất là năm 975 (vì Đinh Toàn sinh năm 974 và là anh Hạng Lang). Tiên Hoàng vì bà, và vì để lấy lòng Nhật Khánh nữa, đã lập Hạng Lang làm thái tử. Nhật Khánh chứa chấp ý đồ không thể nói hết khi giục mẹ nài nỉ vua lập em làm thái tử. Ông ta định sau này sẽ làm phụ tá cho cậu em ruột còn thơ ấu để nắm quyền bính (và chứa chấp ý định làm Vương Mãng, Tào Tháo).

Nhưng việc đó không qua được Nam
Việt vương Đinh Liễn vốn là người đã trưởng thành và có nhiều công lao trong việc đánh dẹp, ngoại giao của nước Đại Cồ Việt. Theo chính sử, Đinh Liễn giết Hạng Lang đầu năm 979. Tuy nhiên, vì yêu con và không thể tiếp tục gây đổ máu, Tiên Hoàng đã không trừng phạt Đinh Liễn bằng cái chết.

Việc Tiên Hoàng không trừng phạt
Đinh Liễn bằng án tử hình khiến Nhật Khánh vô cùng tức giận và đây mới chính là động cơ chủ yếu thúc giục Khánh bỏ sang Chiêm Thành. Ông ta lấy dao rạch mặt vợ là con gái Tiên Hoàng, em Đinh Liễn và bảo rằng: "Cha mày lừa dối ức hiếp mẹ con ta...". Lời nói bị lừa dối đó hẳn chứa đựng sự tức giận vì Tiên Hoàng đã "nuốt lời". Vua Đinh hứa đưa em Khánh (Hạng Lang) lên ngôi, nhưng khi em Khánh bị hại thì kẻ thủ phạm lại không bị trừng phạt đích đáng theo ý muốn của Khánh, bởi thế Khánh mới tìm đến Chiêm Thành để cầu viện báo thù. Ý định của Khánh là mượn quân Chiêm để về nước làm vua, khôi phục nhà Ngô.

Nếu Hạng Lang không chết mà được nối ngôi như dự kiến thì sớm muộn Khánh cũng làm Vương Mãng, Tư Mã Chiêu, tiêu diệt họ Đinh, phế truất ấu chúa này mà giành lấy ngôi – giống như tấm gương Triệu Khuông Dận lấy ngôi của cậu bé 6 tuổi Sài Tông Huấn cách đó ít lâu bên phương bắc.

Dã tâm và hành vi của Nhật Khánh
có thể cho thấy sáng tỏ một lần nữa Dương hậu không phải là mẹ Nhật Khánh. Nếu bà là mẹ Khánh, em (cùng mẹ khác cha) Khánh sẽ là Toàn, sau này Toàn được nối ngôi, Khánh sẽ được làm phụ chính (y hệt vai của Lê Hoàn), Khánh không cần phải đi mượn quân Chiêm Thành để giành quyền nữa. Mặt khác, kể cả trường hợp Khánh đã "trót" bỏ sang Chiêm khi Tiên Hoàng và Đinh Liễn chưa bị hại, thì sau khi em Khánh là Toàn lên ngôi, sao Khánh không về mà phải xui vua Chiêm
động binh để rước cái chết vào mình?

Những hành động Dương hậu và
Khánh đã làm như sử chép (trao ngôi cho người ngoài, dẫn giặc về) cho thấy cả Dương hậu và Khánh đều có chung một ý tưởng: diệt nhà Đinh. Vậy nếu hai người là mẹ con thì tại sao chẳng cùng nhau bàn cách hành động, việc gì Khánh phải bỏ sang Chiêm Thành? Hẳn là lúc đó em (Hạng Lang) đã chết và mẹ cũng đã mất hoặc đã quá già yếu và bị Tiên Hoàng xa lánh, chỗ dựa đã hết, Khánh cùng đường mới tìm cách sang Chiêm. Dương Hậu và Khánh không phải là mẹ con.

Các tác giả cuốn Phả hệ họ Ngô
Việt Nam dẫn chiếu từ trang 323 cuốn sách Bước thăng trầm của Quách Tấn (xuất bản 1996) để nêu giả thiết: phải chăng sử cũ nhầm Ngô Nhật Khánh với vua Chiêm Thành lúc đó là Ngô Nhật Hoan và biện minh rằng Nhật Khánh không phải là kẻ bán nước. Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào một cuốn sách xuất bản tận năm 1996 để phản biện với điều đã được tất cả sử sách khẳng định về sự kiện Nhật Khánh dẫn giặc về nhà thì rất không thuyết phục. Phả hệ họ Ngô Việt Nam dẫn thêm việc có đền thờ Ngô Nhật Khánh để chứng minh việc Khánh vô tội. Tuy nhiên, lý do việc có đền thờ Ngô Nhật Khánh không có gì khó hiểu, các sứ quân khác cũng có đền thờ như Kiều Công Hãn hay thậm chí tướng giặc Sầm Nghi Đống cũng có đền thờ.

Kết luận
Từ những lập luận trên, có thể
rút ra 3 kết luận:

* Dương hậu là con Bình vương Dương Tam
Kha, hoặc có thể là con Dương Thế Hiển hay Dương Thái Huyền hoặc Dương Nhị Kha, sau làm con nuôi Dương Tam Kha. Từ việc Dương Tam Kha nhận Ngô Xương Văn làm con có thể suy đoán vua Dương Bình vương không có con hoặc rất hiếm muộn.

* Dương hậu không lấy Ngô Xương Văn và bà
không phải là mẹ Ngô Nhật Khánh. Bà chỉ là hoàng hậu hai triều Đinh, Lê như sử sách đã ghi. Bà trạc tuổi Lê Hoàn và thọ khoảng 55-60 tuổi. Bà sinh ra Đinh Toàn lúc trên dưới 30 tuổi.

* Ngô Nhật Khánh không phải cháu ngoại của
Chương Dương công Dương Tam Kha.

Chỉ còn một vài khả năng cuối
cùng, vẫn có thể xảy ra, nhưng chỉ có thể làm thay đổi ít nhiều thông tin của 1 trong 3 kết luận trên chứ không thể thay đổi được mệnh đề: Dương hậu chỉ là hoàng hậu 2 triều chứ không phải 3 triều:

a. Có thể trong 4 hoàng hậu còn lại của
Đinh Tiên Hoàng, bà mẹ của Nhật Khánh cũng mang họ Dương.

b. Có thể Ngô Xương Văn cũng lấy một người vợ họ Dương khác, không phải là người lấy 2 vua Đinh, Lê sau này và ông không phải là cha của Nhật Khánh.

c. Giáo sư sử học Lê Văn Lan, trong cuốn "Lịch sử Việt Nam - hỏi và đáp" (2004) đã có cách biện luận rất ngắn gọn và thông minh để phản bác giả thuyết Dương Vân Nga là hoàng hậu ba triều của cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam. Ông cho rằng:
Cuốn Phả hệ họ Ngô Việt Nam chỉ nói tới
việc Ngô Xương Văn có một bà vợ mang tên Dương Vân Nga, sau đó không hề nhắc tới việc bà Dương Vân Nga này lấy ai nữa. Do đó không thể kết luận bà còn lấy vua Đinh và vua Lê.

Bổ sung thêm cho giả thiết
của giáo sư Lê Văn Lan: Cái tên "Dương Vân Nga" trong trường hơp này có thể coi là sự trùng hợp gây lầm lẫn cho người sau, hoặc tên của bà vô tình (do thời gian trôi đi, do truyền miệng thêu dệt...) được gán cho người thực sự lấy 2 vua Đinh, Lê mà bà hoàng hậu hai triều kia thì vốn mang tên khác, như Dương Ngọc Vân chẳng hạn.



 

Lật lại một số "nghi án" lịch sử!

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
 :: KIẾN THỨC LỊCH SỬ :: Câu Chuyện Lịch Sử-
Copyright ©2010 - 2012
Design by by Nguyen Duc Toan
Bản quyền by Nguyen Duc Toan
Nickname: nguyenductoan201188.
RSS RSS 2.0 XML MAP
Powered by phpBB Version 2.0 Lisenced
Copyright ©2010 - 2013
Lưu ý:Xem diễn đàn tốt nhất ở độ phân giải 1024x768 và sử dụng Fire Fox 3


Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | Sosblogs.com